Vườn Quốc gia Côn Đảo có ý nghĩa quan trọng toàn cầu về sinh vật biển, sinh cảnh rừng và vị trí địa lý. Vùng biển cạn trong các khu vực đảo có các hệ sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn. Nhận thức được tầm quan trọng đa dạng sinh học của Vườn quốc gia Côn Đảo, Kế hoạch hành động đa dạng sinh học và Chiến lược GEF quốc gia của Việt Nam đều xếp Côn Đảo là khu vực bảo tồn ưu tiên hàng đầu. Ngân hàng Thế giới, trong ấn phẩm xuất bản năm 1995 với tiêu đề Một hệ thống các khu vực bảo tồn vùng biển tiêu biểu toàn cầu, cuốn số III cũng xếp Côn Đảo là khu vực ưu tiên.
Vùng biển Côn Đảo có tiềm năng sinh học biển rất phong phú và đa dạng, có 44 loài sinh vật quý hiếm trong Sách Đỏ của Việt Nam và IUCN cần được quan tâm bảo vệ (chi tiết về tiềm năng sinh học này được mô tả chi tiết đầy đủ trong Văn kiện dự án trình đã được GEF phê duyệt, trang 7 và 8 – được trích lược trong phụ lục 8).
Tuy đa dạng sinh học biển tại Vườn Quốc gia Côn Đảo hiện còn đang ở tình trạng khá tốt so với các khu vực khác của Việt Nam, nhưng một số nguy cơ đã được xác định qua các nghiên cứu của Chính phủ, nhà tài trợ, các tổ chức phi chính phủ (WWF, DANIDA, và ADB). Có thể thấy những nguy cơ sau:
- Khung pháp lý, chính sách và thể chế cho các khu bảo tồn ở Việt Nam chưa thật sự hoàn thiện (đặc biệt là trong lĩnh vực bảo tồn biển).
- Những trợ giúp về kĩ thuật, tài chính và thể chế cho Vườn quốc gia Côn Đảo là không đủ để bảo vệ đa dạng sinh học một cách hiệu quả. Tình trạng này còn trầm trọng hơn do sự yếu kém trong khâu thực hiện, thực thi luật pháp, tiếp cận nguồn tài nguyên, hạn chế về năng lực của đội ngũ cán bộ và Ban quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo cũng như trang thiết bị và phương tiện cho công tác bảo tồn.
- Việc tham gia của các cộng đồng dân cư vào các hoạt động bảo vệ đa dạng sinh học ở Côn Đảo mặc dù đã tốt hơn một số vùng ven biển khác của Việt Nam, song vẫn còn nhiều bất cập. Trước đây các dự án tài trợ tiến hành ở Côn Đảo, vì nhiều lý do khác nhau đã vận dụng một định nghĩa bảo vệ đa dạng sinh học khá hẹp và không xem xét các khía cạnh kinh tế xã hội trong bảo tồn đa dạng sinh học một cách kĩ lưỡng và thấu đáo.
- Cho đến nay, kinh phí dành cho hoạt động bảo vệ đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Côn Đảo được lấy từ hai nguồn, nhà nước và các dự án tài trợ. Tính bền vững thực sự của việc bảo tồn đa dạng sinh học ở Côn Đảo chưa đạt được.
- Phát triển kinh tế quy mô lớn sẽ diễn ra tại Côn Đảo trong tương lai. Những hoạt động kinh tế loại này được hình thành bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận lập quy hoạch truyền thống, thiếu việc phân vùng chức năng, và được chuẩn bị mà không có sự xem xét một cách nghiêm túc những tác động về mặt môi trường và xã hội.
- Các thảm hoạ từ thiên nhiên như: cơn bão Linda (1997), hiện tượng nước biển nóng lên "tẩy trắng san hô" (1998) và gần đây có hiện tượng tảo độc làm ảnh hưởng đến các hệ sinh thái biển ở Côn Đảo cần phải có các giải pháp để phục hồi. |
Bên cạnh đó, cùng với quá trình phân cấp đang tiếp tục diễn ra ở Việt Nam, chính quyền huyện Côn Đảo sẽ có trách nhiệm nhiều hơn trong việc lập kế hoạch và quản lý nguồn tài nguyên biển và ven biển mặc dù địa phương còn chưa đủ năng lực thực hiện những công tác cần thiết để quản lý một cách hữu hiệu. Phần lớn các cơ quan hành chính ở cấp tỉnh và gần như tất cả các cơ quan ở cấp huyện đều thiếu năng lực lập kế hoạch, đặt ưu tiên, thiết kế dự án, theo dõi & đánh giá dự án, và quản lý bền vững tài nguyên. Mặc dù các cơ quan địa phương ở Côn Đảo có duy trì các số liệu thống kê cho các cơ quan cấp trên, nhưng lại thiếu khả năng phân tích cần thiết để sử dụng những số liệu thống kê đó trong việc theo dõi hoặc phát hiện vấn đề.
Những nguyên nhân nêu trên đã làm cho hê sinh thái biển và ven biển có tầm quan trọng toàn cầu của Vườn quốc gia Côn Đảo được bảo vệ một cách chưa phù hợp, và như vậy sự can thiệp và hỗ trợ của GEF đối với Côn Đảo là cần thiết để đạt được sự bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên đa dạng sinh học này.
Bộ Thuỷ sản đã được giao nhiệm vụ thiết kế và quản lý hệ thống các khu bảo tồn biển (tháng 7 năm 2003); dự thảo quy hoạch tổng thể cho các Khu Bảo tồn Biển (KBTB) hiện đang được xây dựng để trình lên Thủ tướng phê duyệt. Mặc dù hệ thống các khu bảo tồn biển đã được xác định là vấn đề ưu tiên quốc gia từ lâu nhưng Chính phủ quyết định làm theo phương thức từ từ bằng cách thí điểm nhiều mô hình quản lý Khu Bảo tồn biển (KBTB) khác nhau. “KBTB thí điểm” ở Hòn Mun do GEF tài trợ thuộc quyền quản lý của UBND tỉnh Khánh Hoà. Nơi thí điểm thứ 2 là đảo Cù Lao Chàm dưới sự quản lý của UBND tỉnh Quảng Nam. Dự án Côn Đảo đã trở thành địa điểm thử nghiệm thứ ba thuộc quyền quản lý của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Viện Hải dương học, cùng với các đơn vị khác, đã xác định ra 15 KBTB ở Việt Nam. Tất cả các bên liên quan đều nhất trí rằng những vùng này là những KBTB ưu tiên hàng đầu. Sáu trong số các vùng này nằm trong vùng có cả bảo tồn rừng (trong đó có Côn Đảo).
Luật Thuỷ sản được ban hành (2003), cũng như Nghị định 27/2005/NĐ-CP ngày 8/3/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luât Thuỷ sản và sự thành lập Ban chỉ đạo quốc gia mạng lưới các khu bảo tồn biển thuộc Bộ Thuỷ sản là điều kiện thuận lợi cho quá trình triển khai thực hiện dự án này tại Côn Đảo.
Các đối tượng thụ hưởng trực tiếp của dự án này là: Vườn quốc gia Côn Đảo, Ủy ban Nhân dân huyện Côn Đảo, Đội Bảo vệ và Khai thác nguồn lợi thuỷ sản huyện Côn Đảo và cộng đồng ngư dân sống ở Côn Đảo, ít nhất là 50 hộ ngư dân đánh bắt thuỷ sản tại huyện Côn Đảo trực tiếp tham gia vào các hoạt động của dự án. Các đối tượng thụ hưởng khác là các Sở, phòng ban của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, trong đó có Chi cục Bảo vệ và Khai thác nguồn lợi thuỷ sản, Sở Văn hóa – Thể thao - Du lịch, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Khoa học và Công nghệ, .v.v.; cũng như cộng đồng ngư dân ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và các tỉnh lân cận và cộng đồng cư dân ven biển nói chung. 
Dự án góp phần vào thực hiện sứ mệnh của UNDP tại Việt Nam. UNDP đặt mục tiêu hỗ trợ Chính phủ Việt Nam tăng cường năng lực thực hiện các nghĩa vụ của mình với tư cách là nước ký kết các hiệp định môi trường đa phương (MEAs). UNDP giúp đáp ứng mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học có tầm quan trọng toàn cầu của Việt Nam ở các khu rừng, đất ngập nước và vùng biển ghi trong Khuôn khổ hỗ trợ phát triển của Liên hợp quốc (UNDAF 2001-2005). Chiến lược là những sự hỗ trợ và hợp tác thiết kế dự án mới nhằm kết hợp tốt hơn các kỹ thuật và văn hoá truyền thống vào các dự án bảo tồn trong các khu bảo tồn.
Chiến lược của dự án phù hợp với khuôn khổ hỗ trợ phát triển của Liên hợp quốc cho Việt Nam giai đoạn 2001-2005, trong đó chỉ ra rằng hỗ trợ của Liên hơp quốc cho bảo vệ môi trường ở Việt Nam sẽ được thực hiện thông qua các hoạt động cơ sở và lồng ghép những vấn đề môi trường trong quá trình ra quyết định của các ngành khác. Dự án đóng góp vào cả ba Mục đích trong khuôn khổ hỗ trợ phát triển giai đoạn 2001-2005 và một Đầu ra trong khuôn khổ hỗ trợ phát triển giai đoạn 2006-2010.
Dự án góp phần đạt được Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ số 1 và số 7. Dự án đáp ứng chỉ tiêu cụ thể về "đảo ngược tình trạng mất mát tài nguyên môi trường" bằng việc tăng cường quản lý môi trường và tham gia rộng rãi hơn trong việc bảo tồn đa dạng sinh học biển và ven biển. Dự án góp phần đạt được mục tiêu số 1 thông qua việc triển khai các hoạt động hỗ trợ sinh kế nhằm tăng thu nhập cho các cộng đồng địa phương trong khu vực Côn Đảo.
|